Thuở thiếu thời, Tiết Uyển Anh xuất thân hiển hách, mỹ mạo tài cao, được cha ông hết mực yêu thương, lại có thầy là đại Nho đương thế. Tiên sinh vẫn thường vỗ tay tỏ vẻ tiếc nuối, đáng hận thay nàng không phải bậc trượng phu.
Nhiều năm sau, khi nàng đã trở thành chủ nhân của chốn thâm cung sâu như bể, Di mẫu Chu Thái hậu nói với Tiết Uyển Anh: "Ngày trước, Tổ phụ con thường khoe với ta về tài trí của con, lại thở dài than tiếc rằng con không phải thân nam nhi. Bây giờ đây ta thấy vế sau quả là đúng thật, con nên sinh ra mà làm nam nhi mới phải, thế còn hơn là cứ như bây giờ, hoàn toàn mù mờ về chuyện hậu trạch."
Trong vô số những câu chuyện tranh đấu chốn cung đình, kẻ thắng làm vương, kẻ bại làm giặc. Điều ấy vốn dĩ chẳng sai, nhưng đấu đá qua lại như thế, rốt cuộc thì ai mới thật sự là người thắng cuộc?
Trong câu chuyện này có một vị Hoàng hậu ôm tài kinh bang tế thế nhưng lại bị vây khốn trong thành cung khuyết; có một vị Phi tử tuy mỹ mạo vô song nhưng lại căm ghét việc dùng sắc hầu người. Và có một đoạn ái tình.
Vào một buổi chiều thu, ta vừa tỉnh giấc sau giấc ngủ trưa, còn nàng thì vẫn chưa ngủ. Thế là được một khoảnh khắc 'tuế nguyệt tĩnh hảo'[1]. Ta vang tiếng sắt, nàng gieo phím cầm, cùng nhau tấu lên một khúc Trường Tương Tư, thế là được 'cầm sắt hòa minh'[2]. Ta gối đầu lên chân nàng, ngón tay nàng luồn qua mái tóc ta, tóc xanh đan nhau, thế là được 'bạch đầu giai lão'[3].
[1] Tháng năm yên bình tốt đẹp.
[2] Vợ chồng tâm đầu ý hợp.
[3] Bên nhau đến khi tóc trắng.
—————
GIỚI THIỆU
"Hoa bay hoa rụng ngập trời,
Hồng phai hương lạt ai người thương hoa?
Đài xuân tơ rủ la đà,
Rèm thêu bông khẽ đập qua bên ngoài.
Kìa trong khuê các có người,
Tiếc xuân lòng những ngậm ngùi vẩn vơ.
Vác mai rảo bước bước ra,
Lòng nào nỡ giẫm lên hoa thế này?
Vỏ du tơ liễu đẹp thay,
Mặc cho đào rụng, lý bay đó mà.
Sang năm đào lý trổ hoa,
Sang năm buồng gấm biết là còn ai?
Tháng ba tổ đã xây rồi,
Trên xà hỏi én quen người hay không?
Sang năm hoa lại đâm bông,
Biết đâu người vắng, lầu hồng còn trơ?
Ba trăm sáu chục thoi đưa,
Gươm sương dao gió những chờ đâu đây.
Tốt tươi xuân được mấy ngày,
Chốc đà phiêu dạt, bèo mây thêm sầu.
[...]"
———— Tào Tuyết Cần
"Một tác phẩm trung thiên nho nhỏ mà có thể nói là khá đặc biệt, chính kịch cung đấu nhưng tiết tấu chậm rãi như nước chảy, suy tư về thân phận phụ nữ và lời phê phán thời đại ẩn trong không khí nhẹ nhàng và văn phong kiểu cổ điển. Không có đao to búa lớn cửu long đoạt đích, qua những Tiết Uyển Anh, Chân Nhược Y, Lục Nghi Dao, Tiết Linh Quân, Cao Lan Chi, Triệu Phương Từ, Chu Thái hậu,... 'Xuân Nhật Yến' dùng chuyện son phấn chốn hậu đình để cảm thán nỗi niềm nhân thế, phơi bày nhiều sự đau khổ của phái nữ, khát vọng tự do tự cường của phụ nữ thời phong kiến.
Đó là Tiết Uyển Anh băn khoăn: "Có phải vì mình sinh ra đã ở trong nhung lụa nên không biết được nỗi đau khổ chốn nhân gian; hay là do người đời vì phú quý và danh lợi mà có thể làm ngơ tất cả mọi bi thương, nhắm mắt trước cảnh khổ; và lại vì nỗi khổ của riêng mình mà gạt bỏ hết chữ đức, chữ tình?"
Đó là Chân Nhược Y nhìn đàn kiến lầm lũi bò dưới gốc hoa lê, thấy phận gái của mình cũng nhỏ bé và bất lực như thế, không biết cách nào để vùng lên ngoài mơ tưởng hồn thoát khỏi xác để bay lên trời cao.
Đó là Lục Nghi Dao mang ám ảnh tuổi thơ; là Tiết Linh Quân tính đi tính lại mà vẫn tính sai phận mình; là Cao Lan Chi trời sinh không có sắc đẹp, thấy mình như gánh chịu một lời nguyền; là Triệu Phương Từ đau đáu nhớ thương con. Thậm chí là một Thái Tang răm rắp chiều theo chủ, một Đồ Bích can gián chủ, một Hồng Đậu thương xót chủ,... và nhiều người phụ nữ khác. 'Xuân Nhật Yến' không hề dài, là một bức tranh nhỏ nhưng chi tiết vẽ phụ nữ làm trung tâm, đồng thời chất vấn và đả kích những thói hư tật xấu ở đời."
Nhận xét
Đăng nhận xét